Chào mừng bạn đến với Cổng thông tin Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Quốc tế, Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Thời gian: 01:51

Vài nét khái lược về văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ 21 giao lưu và hội nhập quốc tế

Sunday, 31 March 2013 12:53

Tóm tắt:Bài viết trình bày nhận thức cá nhân về bản sắc văn hoá Việt Nam đầu thế kỷ XXI. Bản sắc văn hoá Việt Nam bao gồm những giá trị văn hoá bền vững kết tinh qua lịch sử dựng nước và giữ nước song giá trị tiêu biểu nhất là tinh thần, chủ nghĩa yêu nước, chủ nghiã nhân đạo, là tình yêu thương đùm bọc giữa con người với con người, là ý thức bảo vệ nhân phẩm, giữ gìn đạo lý truyền thống, là tinh thần đoàn kết, nhân ái, đấu tranh vì độc lập, tự do và phát triển dân tộc.

Toàn cầu hoá là sự giao lưu rộng rãi trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, môi trường…trên toàn cầu. Cụ thể là các nền văn hoá trên thế giới lưu thông trong toàn cầu dưới mọi hình thức, chịu tác động song hành của hoà nhập và bảo tồn. Toàn cầu hoá văn hoá xây dựng trên cơ sở con người - chủ thể văn hoá. Các nền văn hoá khác nhau đều cố gắng bảo vệ bản sắc riêng nhằm phát huy ưu thế và phô trương sức mạnh của  mình. Trong bối cảnh đó, Việt Nam cũng chủ động, tích cực trong ngoại giao văn hoá với các nước trong khu vực và thế giới. Biểu hiện công khai của toàn cầu hoá văn hoá mà Việt Nam thể hiện đã tác động hai mặt đến đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội của cả đất nước. Việt Nam trong năm vừa qua đã gặt hái được nhiều thành công trong việc quảng bá văn hoá của dân tộc tới bạn bè năm châu thông qua chiến lược ngoại giao tích cực, chủ động, đa phương, đa dạng hóa các mối quan hệ, làm bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới trên cơ sở tôn trọng quyền bình đẳng, đóng góp tích cực cho hoà bình và phát triển thế giới

Người Việt Nam tự hào khi khẳng định: Văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XXI trên con đường giao lưu, hội nhập quốc tế đã và đang bước những bước chắc chắn, tự tin. Việt Nam sẽ là một trong những con rồng Châu Á đầy tiền năng trên đà phát triển không chỉ về văn hóa, mà còn phát triển về giáo dục, kinh tế, chính trị và mọi mặt của đời sống xã hội.

Vấn đề “Văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XXI- Giao lưu và hội nhập quốc tế” là vấn đề quan trọng và sống còn đối với đất nước Việt Nam trong giai đoạn đổi mới hiện nay. Định hướng văn hóa đúng trong bối cảnh giao lưu và hội nhập quốc tế sẽ tạo đà thúc đẩy sự phát triển xã hội về mọi phương diện…Đây là vấn đề thực sự nhạy cảm của cả xã hội. Là vấn đề lớn rất cần sự quan tâm và đóng góp công sức, trí tuệ đúng, đủ của cả đất nước, của mọi tầng lớp xã hội, đặc biệt là của các cấp lãnh đạo có thẩm quyền, có tâm, có tầm, có trí lực và huệ nhãn đích thực. Bài viết chỉ là đôi điều nhận thức cá nhân, mong nhận được sự góp ý, trao đổi và chỉ giáo của các bậc trí giả.

1.Bản sắc Văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XXI

Bản là cái gốc, cái căn bản, cái lõi, cái hạt nhân của một vật (vật ở đậy hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả người, động vật, thực vật, đồ vật, các chất, những khái niệm trừu tượng...). Sắc là cái thể hiện ra bên ngoài của vật đó. Vì thế khi nói bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Namtức là nói những giá trị gốc, căn bản, cốt lõi, những giá trị hạt nhân của dân tộc Việt Nam được thể hiện qua đời sống hiện tại của con người Việt Nam trên mọi lĩnh vực... Những giá trị hạt nhân của bản sắc văn hóa Việt Nam gồm rất nhiều giá trị khác nhau, bài viết chỉ dừng lại ở những giá trị tiêu biểu, bản chất nhất. Có thể thấy, những giá trị mang tính dân tộc sâu sắc được biểu hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống con người Việt Nam: trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, sân khấu, hội họa, điêu khắc, kiến trúc; trong lĩnh vực giáo dục, quân sự, ngoại giao, kinh tế; trong sinh hoạt, giao tiếp, ứng xử hằng ngày của người Việt Nam. Những giá trị hạt nhân vốn được tạo thành theo tiến trình lịch sử và được khẳng định trong lịch sử xây dựng, gìn giữ và phát triển của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Con người Việt Nam nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung thường xuyên kiểm nghiệm những giá tri hạt nhân trong bản sắc văn hóa của dân tộc mình để làm mới, làm phong phú thêm những giá trị đó cho các thế hệ kế tiếp trong tương lai. Mỗi con người sinh ra trong cõi đời hiện hữu đều có những nhu cầu tối thiểu: ăn, mặc, ở; nhu cầu giao tiếp với cộng đồng; nhu cầu thể hiện tình cảm, suy nghĩ, hành động, mong ước của mình trước thiên nhiên và xã hội. Cái làm nên nét riêng biệt của mỗi con người, mỗi dân tộc khởi nguồn từ sự không giống nhau về hoàn cảnh lịch sử, địa lý, nguồn gốc nòi giống... Có lẽ vì thế nên nhu cầu của con người ở mỗi vùng, mỗi quốc gia khác nhau đã tạo nên bản sắc riêng biệt độc đáo cho mỗi con người từng vùng miền; tạo nên sự đa dạng sinh động trong ngôi nhà chung - toàn cầu hoá thế giới.

Bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam đầu thế kỷ XXI bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa văn hóa được vun đắp qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, tạo thành những nét đặc sắc riêng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam. Xét về bản chất, lịch sử dân tộc Việt Nam từ thời dựng nước là lịch sử không ngừng đấu tranh chống ngoại xâm để giành và giữ nền độc lập, tạo nên phẩm chất cao cả và thiêng liêng nhất của bản sắc văn hoá dân tộc, đó là tinh thần, chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo; là tình yêu thương đùm bọc giữa con người và con người. Chủ nghĩa yêu nước trong bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam thể hiện rõ nét ở lòng dũng cảm, đức hy sinh, tinh thần đoàn kết, nhân ái, đấu tranh vì độc lập, tự do cho dân tộc; chủ nghĩa nhân đạo thể hiện ở tình yêu thương con người, ý thức bảo vệ nhân phẩm, giữ gìn đạo lý truyền thống...

Bản sắc văn hoá  dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XXI hiện nay không phải là cái ngưng đọng, bất biến kết tinh tinh hoa văn hóa của các thế kỷ trước, các thế hệ đi trước mà là sự tích luỹ, thu nạp, kế thừa có chọn lọc tinh hoa văn hóa của dân tộc đồng thời phát triển nó một cách biện chứng phù hợp với thời đại hiện đại - toàn cầu hóa thế giới. Trải qua hơn 4000 nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, văn hoá Việt Nam đã vượt qua thế bị động để giành lấy thế chủ động: tiếp thu tinh hoa văn hoá của dân tộc và nhân loại, làm giàu thêm bản sắc văn hóa của riêng mình.

Trong thời đại toàn cầu hóa thế giới hiện nay, bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc luôn lấp lánh hào quang riêng biệt để mỗi con người bước ra với cộng đồng nhân loại  không bị trộn lẫn hay tan biến. Điều này thực sự có ý nghĩa rất quan trọng khi dân tộc Việt Nam xây dựng nền kinh tế thị trường, giao lưu, mở cửa, hội nhập thế giới trong xu thế toàn cầu hoá.

Cùng với sự giao lưu khu vực và quốc tế, hiện nay trên thế giới đang diễn ra xu hướng toàn cầu hoá về kinh tế. Từ sự phát triển của lực lượng sản xuất, của các mối quan hệ tài chính, thương mại, với những tổ chức mang tính toàn cầu như tổ chức thương mại thế giới (WTO), ngân hàng thế giới (WB), quỹ tiền tệ quốc tế (IMF )...v...v..., toàn cầu hoá không chỉ phát huy ảnh hưởng trong lĩnh vực kinh tế mà còn tác động mạnh mẽ tới các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, đặt ra cho các dân tộc, các quốc gia những cơ hội và thách thức lớn lao.

Thực tế, văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực và mục tiêu của sự phát triển, là linh hồn, sức sống mãnh liệt của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Trong quá trình dựng nước và giữ nước, văn hóa Việt Nam là một thực thể sống động góp phần hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam. Cũng vì vậy, bản sắc văn hóa Việt Nam được vun đắp qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước đã không bị mai một, đồng hoá mà ngày càng hoàn thiện những nét riêng độc đáo, tạo ra vẻ đẹp Việt Nam đáng khâm phục, tự hào trong khu vực và trên trường quốc tế.

Lịch sử cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng mặt trận văn hoá mà cốt lõi chính là coi trọng bản sắc văn hoá dân tộc. Không bàn trở lại khoảng 1000 năm Bắc thuộc thì gần đây nhất với hơn 100 năm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, bản sắc văn hoá Việt Nam thật sự là vũ khí tinh thần sắc bén để giác ngộ, cổ vũ mọi tầng lớp nhân dân tập hợp dưới ngọn cờ yêu nước, giành nền độc lập tự do cho dân tộc. Ngay từ năm 1943 khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 đang diễn ra ác liệt trên khắp thế giới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có đề cương văn hoá với nguyên tắc dân tộc, khoa học và đại chúng. Trong hoàn cảnh thời bấy giờ, dân tộc hoá là vũ khí mầu nhiệm chống lại văn hoá nô dịch để bảo tồn và phát huy ngôn ngữ dân tộc, tinh thần dân tộc. Chế độ thực dân Pháp, sức mạnh của những phù phiếm từ Pari hoa lệ, hay lối sống Mỹ, sức mạnh của đồng đôla đã không thể làm biến dạng tư tưởng, tình cảm của người dân Việt Nam yêu nước.     

80 năm gần đây, định hướng dân tộc đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt những văn kiện của Đảng về văn hoá, văn nghệ. Nghị quyết 5 của Ban chấp TW khoá VIII đã đánh dấu bước phát triển mới về đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng. Phương hướng chung của sự nghiệp văn hóa Việt Nam là “…xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, làm cho văn hoá thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người ”…Nghị quyết TƯ 5 khẳng định văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Nghị quyết 5 đã làm bệ phóng cho bản sắc văn hoá Việt Nam bước vào thế kỷ XXI trong tư thế mới: tự tin, tự chủ và tự hào. Trong đời sống quốc tế hiện nay, toàn cầu hoá sản sinh ra các giá trị hiện đại, tạo đà cho sự phát triển của các nền văn hoá song toàn cầu hoá cũng là thách thức không nhỏ đối với bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc nói chung và dân tộc Việt Nam nói riêng. Nhận diện cho được những phức tạp của toàn cầu hoá trong những biểu hiện của nó thật không đơn giản. Chính vì vậy nhận thức, đánh giá đúng tình hình, chúng ta sẽ càng tự tin hơn trong các hoạt động sáng tạo, cổ vũ và quảng bá cho các sản phẩm văn hoá tinh thần chân chính, góp phần xây dựng nền văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc.

2. Toàn cầu hóa đầu thế kỷ XXI

Trong thời đại hiện nay, mỗi con người Việt Nam yêu nước ngoài việc hiểu rõ bản sắc văn hóa của dân tộc mình, ý thức bảo tồn và phát huy những bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc thì cũng rất cần phải hiểu và nắm vững khái niệm “toàn cầu hóa” cũng như những vấn đề cơ bản của toàn cầu hóa. Từ đó mới có cơ sở để tiếp cận các lĩnh vực của “toàn cầu hóa” trong đó có lĩnh vực “toàn cầu hóa văn hóa”. Theo nguồn của Trung tâm thông tin tư liệu Bộ Ngoại giao thì năm 1992 Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Galy khái quát: “thế giới của chúng ta đã thực sự bước vào thời đại toàn cầu hóa”.*

Đến nay, thế giới đã có nhiều cách lý giải khác nhau về toàn cầu hoá: Toàn cầu hóa được hiểu là một vấn đề chung không có ranh giới. Các nhà kinh tế, các chính khách, các nhà xã hội học, các nhà văn hóa... đều có thể giải thích  về toàn cầu hoá từ góc độ chuyên môn của mình. Lý giải cặn kẽ hơn, toàn cầu hóa được hiểu là một sự thay đổi sâu sắc trong phạm vi toàn cầu, hình thành sự phân công quốc tế, thị trường quốc tế, cho đến sự lưu thông xuyên biên giới về hàng hóa, dịch vụ, công nghệ, tư bản, tin tức, nhân tài và phân phối tài nguyên... v…v…

Trường phái châu Á cho rằng: toàn cầu hóa là một sự thay đổi xã hội, một sự liên thông ngày càng tăng giữa các xã hội và các yếu tố của nó do sự xuyên văn hóa; sự gia tăng bùng nổ của giao thông và các công nghệ truyền thông góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa và kinh tế quốc tế.

Trường phái châu Mỹ lại cho rằng: toàn cầu hóa là sự phụ thuộc qua lại không ngừng giữa các quốc gia và các cá nhân. Sự phụ thuộc qua lại có thể xảy ra trong lĩnh vực kinh tế, công nghệ, văn hóa, môi trường hay xã hội.

Trường phái châu Âu thì xem toàn cầu hóa là sự hình thành một ngôi làng toàn cầu dưới sự tác động của những tiến bộ trong lĩnh vực tin học và viễn thông. Quan hệ giữa các lĩnh vực trên thế giới ngày càng gần gũi hơn, cộng với sự gia tăng không ngừng về sự hiểu biết lẫn nhau cũng như tình hữu nghị giữa các “công dân” thế giới dẫn tới một nền văn minh toàn cầu.

Các cách định nghĩa trên tuy có khác nhau song đều thể hiện được nội dung chính của khái niệm toàn cầu hóa. Đó là sự giao lưu rộng rãi trong mọi lĩnh vực trên phạm vi toàn cầu. Từ nhận thức chung này cùng với tiến trình hội nhập quốc tế ngày càng nhanh, sự chú ý của dư luận chuyển sang các lĩnh vực cụ thể của toàn cầu hóa về chính trị, kinh tế, văn hóa, môi trường, xã hội... Thuật ngữ “toàn cầu hóa văn hóa” cũng dần hình thành và từ khi xuất hiện đến nay cũng có không ít cách lý giải khác nhau. Mỗi người Việt Nam muốn trở thành con người Việt Nam mới năng động, hiện đại đều phải có ý thức lưu giữ, bảo tồn và phát huy bản sắc đẹp của văn hoá Việt Nam trong tiến trình giao lưu toàn cầu hoá văn hoá.

3.  Hiểu về khái niệm “toàn cầu hóa văn hóa”

Hiện nay, trên thế giới các học giả vẫn đang không ngừng tranh luận về khái niệm “toàn cầu hóa văn hóa”. Tồn tại nhiều cách lý giải về toàn cầu hoá văn hoá, có cả những ý kiến trái chiều nhau song các cách lý giải đều đi tới thống nhất cho rằng, ngày nay khoa học công nghệ phát triển rất nhanh chóng, rút ngắn khoảng cách về thời gian và không gian giữa mọi người, mọi quốc gia. Khoa học công nghệ phát triển rút ngắn mọi khoảng cách không - thời gian đã trở thành nền tảng vật chất thuận lợi cho toàn cầu hóa văn hóa. Vì thế, cách lý giải có tính phổ cập hơn và tương đối sát thực với những gì đang diễn ra trong tiến trình toàn cầu hóa văn hóa hiện nay đó là: Toàn cầu hóa văn hóa là tất cả các nền văn hóa trên thế giới lưu thông trong phạm vi toàn cầu dưới mọi hình thức, chịu tác động song hành của hòa nhập và bảo tồn. Nền văn hóa nào dù nhỏ nhưng có sức sống mãnh liệt sẽ tồn tại và phát triển, những nền văn hóa thiếu sức sống dù lớn cũng có thể sẽ bị teo tóp hoặc hòa tan trong quá trình toàn cầu hóa.

Theo quan điểm tích cực và cũng là ý kiến của tác giả bài viết, toàn cầu hóa văn hóa là sự thẩm thấu của toàn cầu hóa sang lĩnh vực văn hóa, là một bộ phận quan trọng không thể thiếu của toàn cầu hóa. Toàn cầu hóa văn hóa không phải xây dựng trên một vùng lãnh thổ nào đó mà xây dựng trên cơ sở con người – chủ thể văn hóa. Đặc trưng của toàn cầu hóa là sự giao thoa giữa con người, nghệ thuật, sức mạnh vật chất và hình thái ý thức của các quần thể văn hóa. Trong quá trình giao thoa này, khái niệm “toàn cầu” là chỉ số đông nhân loại chứ không phải đơn thuần là khu vực địa lý. Ý thức chung của con người gặp nhau trong toàn cầu hóa văn hóa là các vấn đề về tự do, dân chủ, quyền lợi và bình đẳng...Trong quá trình toàn cầu hóa văn hóa, các nền văn hóa khác nhau đều cố gắng bảo vệ bản sắc riêng của mình, nhằm phát huy ưu thế và phô trương sức mạnh của các nền văn hóa lớn trên thế giới vì vậy sẽ không tránh khỏi cọ sát và xung đột. Trong tiến trình toàn cầu hóa văn hóa, khoảng đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, xuất hiện thuật ngữ "ngoại giao văn hóa" với các chiến dịch ngoại giao văn hóa rầm rộ của các  nước lớn và các nước phát triển. Mục đích của ngoại giao văn hóa là tuyên truyền quảng bá về đất nước, con người, bản sắc văn hóa truyền thống của quốc gia đó đối với thế giới; đánh bóng thương hiệu của quốc gia đó; xóa nhòa những hiểu lầm của thế giới đồng thời gây dựng, củng cố tình hữu nghị và lòng tin của nhân dân các nước đối với nước mình; xét về lâu dài là xây dựng và mở rộng "sức mạnh mềm" của mỗi quốc gia với thế giới. Ngoại giao văn hóa hiện tại đang là một biểu hiện công khai của toàn cầu hóa văn hóa.

Đối với toàn cầu hóa văn hóa lĩnh vực dễ nhìn thấy nhất và đang diễn ra hàng ngày trên khắp thế giới thuộc ưu thế của các nền văn hóa lớn. Đó là các hiện tượng văn hóa có sức cuốn hút mãnh liệt, có tính phổ cập cao, đáp ứng được nhu cầu cấp thiết và thường nhật của con người. Có những hiện tượng văn hóa được sàng lọc, lựa chọn và được nhiều người chấp nhận trong quá trình toàn cầu hóa văn hóa như: phim ảnh Mỹ, lối sống Mỹ, phong cách thể thao Châu Âu, võ thuật Trung Hoa, "fast food" kiểu Mỹ và ẩm thực "gong fu" kiểu Trung Hoa và Nhật Bản…hay những chi tiết nhỏ trong đời sống hàng ngày: ngày "valentine" mười bốn tháng hai - "ngày tình nhân" lãng mạn của Châu Âu, "ngày nói dối" mồng một tháng tư (April Fool) từ Châu Âu…v…v... Dễ thấy, tiến trình toàn cầu hóa văn hóa diễn ra êm ả, thuận lợi và được hoan nghênh vì nó góp phần làm phong phú, thi vị thêm đời sống văn hóa ở những khu vực khác trên thế giới.

Không chỉ thế, toàn cầu hóa văn hóa cũng tác động 2 mặt đến đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội quốc tế cũng như với từng đất nước.

- Về chính trị, toàn cầu hóa văn hóa sẽ làm tăng lên các mối quan hệ giao tiếp, làm ngắn lại khoảng cách thời gian và không gian giữa các công dân trên thế giới, tăng thêm sự giao lưu hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, thậm chí còn vượt qua rào cản ngôn ngữ trong quá trình giao thoa, hội nhập. Đồng thời, toàn cầu hóa văn hóa cũng làm mờ đi ý niệm chủ quyền quốc gia và biên giới quốc gia cùng các khái niệm về an ninh truyền thống.

Trong tiến trình toàn cầu hóa văn hóa, ưu thế luôn thuộc về các nền văn hóa lớn. Trên thực tế, thông tin tạo ra chính kiến, các tập đoàn truyền thông xuyên quốc gia của các nước lớn có thể tạo ra các thông tin giả đưa đến dân chúng để đạt được mục đích của họ.

- Về kinh tế, toàn cầu hóa về văn hóa sẽ thúc đẩy toàn cầu hóa về kinh tế qua việc làm tăng thêm sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các quốc gia, thúc đẩy tự do hóa thương mại và tự do hóa đầu tư; vừa thắt chặt vấn đề sở hữu trí tuệ vừa hòa hợp luật sở hữu trí tuệ giữa các quốc gia; gia tăng phát triển hạ tầng viễn thông toàn cầu; gia tăng luồng dữ liệu xuyên biên giới thông qua việc sử dụng các công nghệ hiện đại Internet, các vệ tinh liên lạc và mạng lưới điện thoại; gia tăng trao đổi ấn phẩm văn hóa quốc tế và du lịch quốc tế.

Tuy nhiên toàn cầu hóa văn hóa cũng làm cho hiện tượng “chảy máu chất xám”, di cư, nhập cư trái phép trên thế giới diễn ra nhiều hơn và dễ dàng hơn. Hiện tượng này góp phần làm gia tăng khoảng cách giầu nghèo giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển, giữa các khu vực trong phạm vi toàn cầu.

- Về văn hóa xã hội, toàn cầu hóa văn hóa đã và đang tạo ra một sự đa dạng cho các công dân thế giới tiếp xúc với các nền văn hóa và văn minh khác nhau; giúp họ hiểu biết hơn về thế giới qua sự bùng nổ của các nguồn thông tin đại chúng và việc phổ thông hóa các hoạt động du lịch. Toàn cầu hóa văn hóa khiến con người trên các Châu lục ngày càng chú ý hơn đến những vấn đề an ninh phi truyền thống ảnh hưởng xấu đến toàn cầu như vấn đề nóng lên của khí hậu, ô nhiễm môi trường, khủng bố quốc tế, buôn lậu ma túy, nâng cao đời sống của dân chúng các nước nghèo .v.v... Từ đó họ sẽ tích cực trong việc kiến nghị với các chính phủ và chủ động  trong việc tham gia giải quyết các vấn đề chung của nhân loại.

  - Đồng thời, toàn cầu hóa văn hóa cũng có khả năng làm mất đi bản sắc thậm chí làm tuyệt chủng những nền văn hóa nhỏ: như bộ tộc Galet ở Anh quốc đã mất đi tiếng mẹ đẻ, thay thế vào đó là tiếng Anh; tiếng Quan hoả ở Singapo đang lùi dần trước sự lấn lướt của tiếng Anh…. Trên phạm vi toàn cầu hoá văn hoá, sự lan tràn của chủ nghĩa đa văn hóa có thể sẽ  dẫn đến việc lai tạp hóa, Tây hóa, Mỹ hóa hoặc Hán hóa các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của nhân loại. Đây cũng là vấn đề khiến các nước và các nền văn hoá khác nhau cần phải lưu tâm để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc mình.

4. Giao lưu và hội nhập quốc tế của Việt Nam đầu thế kỷ XXI trong bối cảnh toàn cầu hóa - “thế giới phẳng”

      Trong giai đoạn hiện nay, đất nước Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập và giao lưu quốc tế đầu thế kỷ XXI, trong bối cảnh toàn cầu hoá với những bước đi đầu tiên thận trọng và hân hoan. Việt Nam và nhân loại đang sống trong một ngôi làng toàn cầu với sự tiện lợi của hệ thống truyền thông hiện đại. Toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu không thể cưỡng lại đối với bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Toàn cầu hóa văn hóa cũng là một dòng chảy lớn cuốn hút mọi nền văn hóa cùng hội nhập, cho dù có quốc gia vẫn thực hiện chính sách "bế quan toả cảng" song cũng không ngăn nổi sự thẩm thấu của dòng chảy toàn cầu hóa văn hóa.

Trong tiến trình toàn cầu hóa văn hóa, bản sắc văn hóa Việt Nam với lịch sử hơn 4000 năm tồn tại và phát triển có sức sống vô cùng mãnh liệt. Văn hóa Việt Nam kiên cường không chịu khuất phục, không bị đồng hóa sau hơn 1000 năm Bắc thuộc vốn đã từng bị các triều đại phong kiến phương Bắc thu sạch, đốt sạch các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Sau hơn 80 năm Pháp thuộc và 30 năm bị văn hóa Mỹ chèn ép, văn hóa Việt Nam vẫn ngời sáng và phát triển mạnh mẽ. Mỗi người Việt Nam hôm nay đều có thể tự hào về bản sắc văn hóa Việt Nam đã được tôi luyện và có sức đề kháng, miễn dịch rất cao, đều tin tưởng Việt Nam nhất định sẽ hội nhập quốc tế thành công và sớm giữ được vị trí xứng đáng trong "ngôi nhà chung - toàn cầu hóa văn hóa thế giới".

Từ khi Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới kinh tế và mở cửa đối ngoại, Việt Nam đã từng bước hội nhập với thế giới về các mặt chính trị, kinh tế, an ninh, văn hóa giáo dục…và thu được nhiều kết quả lớn. Việc Việt Nam tham gia ASEAN, APEC, WTO và hiện là Uỷ viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc là những minh chứng về việc chủ động tích cực hội nhập quốc tế và vị thế ngày càng cao của Việt Nam trên thế giới.Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng rất coi trọng hội nhập văn hóa. Cho đến nay, Việt Nam đã ký kết gần 300 điều ước quốc tế song phương và đa phương về văn hóa với các nước, các Tổ chức quốc tế và khu vực, trong đó có những điều ước quốc tế riêng cho lĩnh vực văn hóa. Trong quá trình hội nhập văn hóa, Việt Nam đã làm được một số việc quảng bá văn hóa Việt Nam với thế giới. Đó là tổ chức ngày Việt Nam ở các nước; phát động và hưởng ứng cuộc bầu chọn Vịnh Hạ Long là kỳ quan thế giới; tổ chức Festival hoa Đà Lạt; lễ hội pháo hoa tại Đà Nẵng; Festival Huế; lễ hội Đền Hùng; tổ chức chương trình "Duyên dáng Việt Nam" tại Châu Âu…**Năm 2009 đã qua còn là "Năm ngoại giao văn hóa Việt Nam" với thế giới. Chương trình hành động của "Năm ngoại giao văn hóa Việt Nam" rất phong phú, trong đó có việc hoàn thành hồ sơ trình UNESCO công nhận thêm 2 khu dự trữ sinh quyển mới ở Đất Mũi (Cà Mau) và Cù Lao Chàm (Quảng Nam); chuyển hồ sơ Vườn Quốc gia Cát Tiên sang Pa-ri để công nhận là di sản thiên nhiên thế giới; hoàn thiện hồ sơ Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội) và Nhà Hồ (Thanh Hóa) để UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới; hoàn thành hồ sơ quan họ, ca trù, múa rối nước, sử thi các dân tộc Tây Nguyên để UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể; vận động UNESCO tham gia kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội…***

Việt Nam thực sự đã và đang có một chiến lược ngoại giao tích cực, chủ động, đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ; làm bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới trên cơ sở tôn trọng quyền bình đẳng, đóng góp tích cực cho hòa bình và phát triển của cả nhân loại. Trong diễn trình toàn cầu hóa, đường lối đối ngoại của Việt Nam được cụ thế hóa rõ nét bằng việc tham gia vào các tổ chức kinh tế - chính trị - văn hoá trên thế giới. Việt Nam đã là thành viên của nhiều tổ chức kinh tế - chính trị quốc tế và khu vực. Là thành viên của Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF),... Ở cấp liên khu vực, chúng ta là thành viên tích cực của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)...

Năm 2010, Việt Nam cũng đã gặt hái được những niềm vui nhất định trong việc quảng bá văn hoá Việt Nam tới bạn bè khắp năm châu: Hoàng thành Thăng Long đã được Unesco công nhận là di sản văn hoá thế giới; Việt Nam cũng đã tổ chức long trọng và thành công lễ hội 1000 năm Thăng Long; Hội nghị cấp cao Hiệp hội các quốc gia Đông Nam A (Asean) vừa qua cũng thành công rực rỡ…

Tất cả đều khiến chúng ta có thể tự hào khẳng định văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XXI trên con đường giao lưu và hội nhập quốc tế đã và đang bước những bước chắc chắn, tự tin. VN sẽ là một trong những con rồng Châu Á đầy tiền năng trên đà phát triển không chỉ về văn hóa, mà còn phát triển về giáo dục, kinh tế, chính trị và mọi mặt của đời sống xã hội. Tất cả đã và đang khẳng định lời nói và ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh: non sông Việt Nam sẽ sớm được “vẻ vang, sánh vai cùng các cường quốc năm châu”. Đây cũng là hy vọng, kỳ vọng và tin tưởng của mỗi người Việt Nam yêu Tổ Quốc, đang từng ngày, từng giờ lặng thầm cống hiến trí tuệ, công sức vào sự nghiệp chung của non sông, đất nước.

Tài liệu tham khảo:

1.Bộ ngoại giao (1999), Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế của Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

2.Dominique Wolton ( 2006), Toàn cầu hóa văn hóa, Nxb Thế giới, Hà Nội.

3.GS.VS. Phạm Minh Hạc, PGS.TS. Trần Kiêu, PGS.TS. Đặng Bá Lãm, PGS.TS. Nghiêm Đình Vì(2002), Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

4.Nguyễn Huy Hoàng (2002), Mấy vấn đề triết học văn hóa, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.

5.Phan Ngọc ( 2005), Bản sắc văn hoá Việt Nam, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội.

6.Samir Amin và Francois Houtart (chủ biên) (2004), Toàn cầu hóa các cuộc phản kháng 2002: Hiện trạng các cuộc đấu tranh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

7.Toàn cầu hóa kinh tế - cách tiếp cận, cơ hội và thách thức (Bài viết của Bộ trưởng  Thương mại Trương Đình Tuyển đăng trên Báo Nhân dân Điện tử ngày 17/01/2005)

8.Thoms L.Friedman (2008),  Thế giới phẳng – Tóm lược Lịch sử Thế giới Thế kỷ 21 ,Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.

9. Đỗ Lai Thuý ( 2005), Việt Nam nhìn từ mẫu người văn hóa, Nxb Văn hóa thông tin, Tạp chí VH – NT, Hà Nội.

*Trung tâm thông tin tư liệu Bộ Ngoại giao

** Thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Văn Thơ trả lời phỏng vấn phóng viên VNTTX ngày 4/7/2008

*** Thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Văn Thơ trả lời phỏng vấn phóng viên VNTTX ngày 4/7/2008

  TS. Nguyễn Thị Quế Anh

  (Nguồn: Kỷ yếuhội thảo khoa học quốc tế  “Văn hóa trong thế giới hội nhập”, Hà Nội, 2010)